Họ Nguyễn Việt Nam - Niềm tự hào của hậu duệ ( phần II )

Thứ tư - 02/12/2015 04:31
HỌ NGUYỄN VIỆT NAM – NIỀM TỰ HÀO CỦA HẬU DUỆ-Phần II ( Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ. Nguyễn Huy Hiệu; Tiến sĩ. Nguyễn Văn Kiệm) Phần II. Họ Nguyễn Việt Nam tự hào với những danh nhân: “tài, hiếu học”
Phần  II. Họ Nguyễn Việt Nam tự hào với những danh nhân: “tài, hiếu học”
Hậu duệ họ Nguyễn Việt Nam không chỉ tự hào về nhữngdanh nhân, danh tướng “tài, trung, đức” chạy xuyên suốt các triều đại trong lịch sử Việt Nam mà còn tự hào về sự hiếu học thành tài của biết bao người con họ Nguyễn đã làm nên nền Văn hiến Việt Nam. Trong danh sách trạng nguyên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội có 55 người thì họ Nguyễn đã chiếm 15 người.Lê Văn Thịnh đỗ Trạng nguyên khoa thi Ất Mão niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075), đời Lý Nhân Tông  là người đứng đầu danh sách, Tuy nhiên, các tác giả Vũ Xuân Thảo trong bài Vài số liệu, tư liệu chưa chính xác trong cuốn "Những ông nghè ông cống triều Nguyễn" đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 67, tháng 9 năm 1999 và Lê Thái Dũng trong Giở trang sử Việt năm 2008 của NXB Đại học Quốc gia Hà Nội thì Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quan Quang, đỗ khoa Bính Ngọ (1246). Tài liệu Các nhà khoa bảng Việt Nam (dẫn theo Hồng Đức) cũng tính Nguyễn Quan Quang là vị trạng nguyên đầu tiên. Vì phải tới khoa thi thứ 6 (khoa Đại tỉ thủ sĩ) vào năm Bính Ngọ (1246), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15, đời vua Trần Thái Tông mới đặt danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên – Bảng nhãn – Thám hoa) và Nguyễn Quan Quang đã đậu Trạng nguyên. Người phụ nữ đầu tiên đỗ tiến sỹ là  Nguyễn Thị Duệ  người làng Kiệt Đặc (nay là phường Văn An), Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương năm 1594.
Những trạng nguyên và cả những danh nhân tuy không phải là trạng nguyên nhưng lại là bậc kỳ tài về văn hoá mang họ Nguyễn phải kể đến là:
Nguyễn Công Bình ( ? - ? ). Người đất Yên Lạc, phủ Tam Đới ( Vĩnh Phú ngày nay ). Đỗ Trạng nguyên khoa Quý Dậu niên hiệu Kiến Gia thứ 3 (1213), đời Lý Huệ Tông. Làm quan đến Hàn lâm Học sĩ.
Nguyễn Thuyên (阮詮), có tên  là  Hàn Thuyên (1229-?)(chữ Hán: 韓詮),  làm tới chức Thượng thư Bộ Hình dưới thời Trần Nhân Tông.
Ông là người làng Lai Hạ, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay là xã Lai Hạ, huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1247
Nguyễn Quan Quang ( ? - ? ). Người xã Tam sơn, huyện Đông Ngàn, Kinh Bắc( huyện Tiên Sơn , Hà Bắc ngày nay ). Đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Ngọ(1234). Làm quan đến chức Bộc xạ, tặng hàm Đại Tư không
Nguyễn Hiền (chữ Hán: 阮賢, 1234 - 1255) đỗ trạng nguyên khi 12 tuổi. Ông là người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường (nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông  trở thành trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) thời vua Trần Thái Tông.
Ông là điển hình của nhà nghèo hiếu học. Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, bà mẹ đã cho ông theo học sư cụ chùa Hà Dương ở làng Dương A
Nguyễn Bá Tĩnh - Tuệ Tĩnh Thiền sư (1330-?), người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương). Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh. Ông được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam.
Nguyễn Trực  (1417 - 1474), quê xã Bối Khê huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội). Ông đỗ đầu trong số đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (tức trạng nguyên) năm 1442 đời vua Lê Thái Tông.
Năm Nhâm Tuất (1442), ông dự kỳ thi Đình và đỗ Trạng nguyên, trở thành trạng nguyên đầu tiên nhà Hậu Lê.
Ông được vua Lê Thái Tông ban sắc Quốc tử giám thi thư thưởng hàm Á Liệt khanh, đứng đầu trong danh sách 33 tiến sĩ cùng khóa được lưu danh ở bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Ông là lưỡng quốc trạng nguyên.
Nguyễn Nghiêu Tư ( ? - ?), người huyện Vũ Ninh, phủ Từ Sơn. Ông đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa thứ 6 (1448), đời Lê Nhân Tông, làm quan Hàn lâm trực học sĩ, An phủ sứ lộ Tân Hưng Thượng. Ông là Lưỡng quốc Trạng nguyên.
Nguyễn Phục  - Đông Hải Đại Vương. Ông quê Thôn Đông, xã Đoàn Tùng (sau đổi là Đoàn Lâm), huyện Trường Tân, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay là Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương), năm 20 tuổi tức năm Thái Hòa thứ mười (1453) thi khoa Quý Dậu, đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ. Ông làm quan tới chức Hàn Lâm Viện Đông Các Đại Học Sĩ, rồi làm chức Phó tả thị giảng (dạy vua học).
Nguyễn Giản Liêm (tiến sĩ khoa mậu tuất 1478)
Nguyễn Quang Bật (14631505) là người đỗ  trạng nguyên năm 1484 dưới triều vua Lê Thánh Tông. Ông là người huyện Gia Bình, nay thuộc địa phận thôn Thường Vũ, xã An Bình, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, có ý chí "nhân định thắng thiên". Sau khi thi đỗ ông được bổ làm quan Viện hàn lâm chức Hàn lâm viện thị thư.
Nguyễn Sư Mạnh người làng Cổ Đô Hà Tây, thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) đời Lê Thánh Tông. Được bổ làm quan Thượng thư Bộ Lễ, tước Sùng Tín hầu, ông được phong là Lưỡng quốc Thượng thư.
Nguyễn Giản Thanh (thường được gọi là Trạng Me1482–?) là trạng nguyên khoa thi Đoan Khánh năm thứ tư (1508), đời vua Lê Uy Mục. Ông là con của tiến sĩ Nguyễn Giản Liêm, người làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me) huyện Đông Ngàn (nay là Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ.
Nguyễn Đức Lượng (1465 - ?), người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Dân Hòa huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), đỗ đầu khoa đệ nhất giáp tiến sĩ  tháng tư, Giáp Tuất, Hồng Thuận năm thứ 6 (1514), đời Lê Tương Dực
 Nguyễn Đăng (1577-?) là đại thần nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Đăng người làng Đại Toán, huyện Quế Dương, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Nguyễn Đăng đi thi Hương, đỗ Giải nguyên. Năm 1602 đời Lê Kính Tông, ông đỗ Hội nguyên. Cả 4 kỳ thi ông đều đứng đầu hạng ưu; sau đó vào thi Đình, ông đỗ Hoàng giáp đình nguyên, ứng chế đỗ thứ nhất.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (14911585), Ông sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng),  là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam-Bắc triều. Sau khi đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi (1535) và làm quan dưới triều Mạc, ông được bổ nhiệm làm Đông Các hiệu thư (chuyên việc soạn thảo, sửa chữa các văn thư của triều đình) rồi sau được cử giữ nhiều chức vụ khác nhau như Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Ông được phong tước Trình Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Những tiên đoán của ông trở thành “sấm trạng” cho đến tận ngày nay.  Đạo Cao Đài sau này đã phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo 
Nguyễn Kỳ (chữ Hán: 阮琦, ? - ?), người làng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Hạ (nay là huyện Khoái Châu,Hưng Yên). Đỗ trạng nguyên khoa Tân Sửu, niên hiệu Quảng Hoà thứ nhất (1541), đời Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải). Làm quan đến Hàn lâm thị thư
Nguyễn Văn Nghi là đại thần nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Văn Nghi người làng Ngọc Bội, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1554 đời Lê Trung Tông, ông đỗ nhất giáp chế khoa.Là người đoan chính, trọng khuôn phép, ông được Trịnh Kiểm tin cậy giao cho làm Hiệu lý Viện hàn lâm. Năm 1556Lê Anh Tông lên ngôi. Ông được cử vào cung dạy học cho vua, được vua Lê trọng vọng. Năm 1580 thời Lê Thế Tông, ông làm Tả thị lang Bộ Lại
Nguyễn Văn Giai (1553 - 1628) là một Tam nguyên Hoàng giáp, từng giữ chức Tể tướng, tước Thái bảo, Quận công. Quê ởxã Mỹ Tường, tổng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc (nay là xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh).
Năm 1579, nhà Lê trung hưng mở khoa thi ở Thanh Hóa, ông lại ra thi và lại đỗ Giải nguyên.
Tháng 8 năm 1580, nhà Hậu Lê mở khoa thi Hội đầu tiên ở sách Vạn Lại, ông đi thi tiếp, đỗ Hội nguyên (đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân), rồi vào thi Đình đỗ luôn Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ. Ông là vị Tam nguyên đầu tiên của thời Lê trung hưng
 Nguyễn Thị Duệ là nữ Tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, bà là người ở Kiệt Đặc (nay là phường Văn An), Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Là một người hiếu học, song luật lệ bấy giờ không cho phép con gái được học hành thi cử, Nguyễn Thị Duệ phải giả trai để dự việc đèn sách. Khoa thi Hội năm Giáp Ngọ (1594) bà mang tên giả là Nguyễn Du đi thi và đỗ đầu khi tuổi vừa 20. Đến khi mở yến tiệc chiêu đãi các tân khoa, vua Mạc Kính Cung thấy vị tiến sĩ trẻ dáng vẻ mảnh mai, mặt mày thanh tú... nên dọ hỏi. Khi đã rõ chuyện, Nguyễn Thị Duệ không bị khép tội mà còn được vua khen ngợi...Sau đó, vua vời bà vào cung để dạy các phi tần, rồi được tuyển làm phi: Tinh Phi (Sao Sa) và người ta quen gọi là "Bà Chúa Sao"
Nguyễn Lượng Thái (chữ Hán: 阮亮采, ? - ?), người xã Bình Ngô, huyện Gia Định, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay thuộc xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Trú quán xã Trạm Lộ (cùng huyện). Ông đỗ đệ nhất giáp đồng tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (trạng nguyên), khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6 (1553) đời Mạc Tuyên Tông (Mạc Phúc Nguyên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ, kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Định Nham hầu
Nguyễn Duy Thì (1572 - 1652) quê ở thôn Yên Lan, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyêntỉnh Vĩnh Phúc.
Nguyễn Duy Thì là một danh nhân văn hóa tầm cỡ quốc gia. Tại khoa thi năm Mậu Tuất (1598) đời vua Lê Thế Tông, Nguyễn Duy Thì đỗ Tiến sĩ năm 27 tuổi, được triều đình Lê Trịnh trọng dụng
 Nguyễn Xuân Chính (chữ Hán: 阮春正, 1587 - 1693) người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc (nay là xã Phù Chẩn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Đỗ trạng nguyên khoa Đinh Sửu, niên hiệu Dương Hòa thứ 3 (1637), đời Lê Thần Tông khi đó ông đã 86 tuổi, là trạng nguyên già nhất trong lịch sử. Làm quan đến Tả thị lang Lại bộ, Nhập thị Kinh diên, tước Đạo Ngạn bá.
Nguyễn Duy Hiểu (1602 - 1639) Người xã Yên Lãng, nay là thôn Hợp Lễ, xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên,  là con trai trưởng của Nguyễn Duy Thì .Năm 27 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ, đời vua Lê Thần Tông (1628), giữ các chức quan Hàn lâm viện Hiệu lí, Đô cấp tự trung Lại khoa.( www.vinhphuc.vn)
Nguyễn Quốc Trinh (chữ Hán: 阮國楨, 1624-1674), người xã Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay là xã Đại Áng, huyện Thanh TrìHà Nội). Đỗ trạng nguyên khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1659), đời Lê Thần Tông. năm 1673, ông được giao làm Lại bộ tả thị lang.
Nguyễn Hy Quang (1634-1692) quê ở làng Trung Tự, phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, kinh thành Thăng Long. Nguyễn Hy Quang ra đời trong cảnh nghèo khó. Ông cần cù học tập đêm ngày, đặc biệt là rất chú trọng học kỹ các môn thiết thực với việc kinh luân. Hiếu học và minh mẫn hơn người, ông thông Nho thạo Nôm, giỏi nhiều môn văn, sử, thiên văn, y lý, phong thủy. Năm 23 tuổi (1657), ông tham dự kì thi thi Hương và đỗ Giải nguyên, năm 1670, ông đỗ khoa Sĩ Vọng. Năm Chính Hòa thứ 5 (1684) Nguyễn Hy Quang được cử giữ chức Lang trung bộ Lại kiêm Tri bộ Hộ.
Ngày Nguyễn Quán Nho vinh quy bái tổ về làng, mặc cho các quan lại hàng tổng hàng huyện chuẩn bị đón rước, mẹ ông vẫn bình thản ra ao làng vớt bèo về nuôi lợn. Khi lý trưởng mời bà về dự lễ rước quan trạng, bà nói rằng:
- Nó thi đỗ là việc của nó sao lại phải đón rước, tôi đang bận vớt bèo!
Nguyễn Quán Nho nghe kể lại, vội cởi áo mũ, cởi giày, xắn quần ra ao làng cầm gậy vớt đầy rổ bèo đem về nhà rồi mời mẹ ra đình làng làm lễ. Đến nay làng Dương Hòa còn lưu truyền câu ca Vinh quy bái tổ sau rổ bèo đầy.
Nguyễn Viết Thứ (1644-1692) là người làng Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội, là đại thần nhà Lê trung hưng. Năm 21 tuổi (1664), ông đỗ Đình nguyên nhị giáp tiến sĩ đời Lê Huyền Tông.
Nguyễn Đăng Cảo (1619-?), người xã Hoài Bão, huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Năm 28 tuổi đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (tức Thám hoa) khoa thi Bính Tuất niên hiệu Phúc Thái thứ 4 (1646) thời Lê Chân Tông Do khoa thi này không lấy Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (trạng nguyên) và Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh (bảng nhãn) nên ông là người đứng đầu trong số những người thi đỗ khoa này. Sau ông lại đỗ đầu khoa Đông các và làm quan Đông các Đại học sĩ (1659).
Nguyễn Đăng Minh (1623-1696) người xã Hoài Bão, huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Bính Tuất niên hiệu Phúc Thái thứ 4 (1646) thời Lê Chân Tông, cùng khoa thi với anh trai là Nguyễn Đăng Cảo. Ông làm quan cho nhà Lê trung hưng tới Quốc tử giám Tế tửu, tước Diễn Lộc nam.
Nguyễn Đăng Đạo  (16511719) là một trong số rất ít trạng nguyên làm quan tới chức tể tướng. Ông người xã Hoài Bão (có tục danh là làng Bịu), tổng Nội Duệ (nay là xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Thân phụ ông là tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh
Năm 16 tuổi Nguyễn Đăng Đạo đi thi và đỗ tam trường (tú tài). Năm 19 tuổi lại đỗ đầu hương cống (cử nhân), được triều đình cho vào học tại Quốc Tử Giám. Năm Chính Hòa thứ 4 (Quý Hợi1683) ông thi đình và đỗ trạng nguyên.
Nguyễn Bá Lân (1701-1785) là nhà thơ và là đại quan nhà Lê trung hưng. Nguyễn Bá Lân sinh tại xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong (cũ), trấn Sơn Tây; nay thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội. Vốn hiếu học, có tài văn chương, lại được cha dạy dỗ chu đáo; nên khoa Tân Hợi (1731) đời vua Lê Thuần Tông, Nguyễn Bá Lân thi đỗ Tiến sĩ.
Nguyễn Quỳnh (16771748) là một danh sĩ thời Trịnh (vua Lê Hiển Tông), từng thi đỗ Hương Cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên
Nguyễn Khản (1733 – 1786). Ông là con trai đầu Nguyễn Nghiễm, nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Sáu tuổi đi học, mười tuổi biết làm bài. Năm Bính Dần (1746), 13 tuổi được tập ấm là Hoàng Tín Đại phu, 14 tuổi thi Hương đậu Tam Trường (Tú Tài). Năm Quý Dậu (1753), 20 tuổi thi đậu cử nhân. Năm Quý Dậu (1753) thi Hội trúng Tam Trường (tương đương với phó bảng sau này). Vì học giỏi có tiếng nên được sung chức Thị Giảng ở Lạng Quốc Phủ (Phủ của Trịnh Sâm) dạy học cho Thế tử Trịnh Sâm. Năm Canh Thìn (1760) thi Hội đỗ Tiến sĩ. Năm Đinh Hợi (1767), ông được cử làm Tri Bình phiên, sau thăng lên Tri Bộ phiên ở phủ Chúa, rồi Đông Các Đại học sĩ kiêm Tế Tửu Quốc Tử Giám. Năm Mậu Tí (1786), lại có chỉ bổ ông làm Tri Bộ phiên ở Phủ Liêu (Phủ chúa Trịnh), kiêm Quân nghiêm hữu đội (quan võ), ông là người giữ cả chức quan văn, quan võ trong phủ Chúa.
Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), tức Ôn Như Hầu là một nhà thơ thời Lê Hiển Tông. Ông là tác giả Cung oán ngâm khúc, tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam. Quê ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là làng Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Nguyễn Gia Thiều là người có sự hiểu biết sâu rộng về văn họcsử học và triết học. Ông còn tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạchội họakiến trúctrang trí
Nguyễn Huy Oánh (1713 - 1789), tự: Kinh Hoa, hiệu:Lưu Trai; là đại thần và là nhà văn thời Lê trung hưng. Quê ở làng Trường Lưu, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Trường Lộc, Can LộcHà Tĩnh).Năm Nhâm Tý (1732), Nguyễn Huy Oánh đỗ đầu kỳ thi Hương tại Trường thi Nghệ An, được bổ quan, thăng dần đến chúc Tri phủ Trường Khánh. Năm Mậu Thìn (1748), ông đỗ thi Hội, và khi vào thi Đình, ông đỗ Đình nguyên Thám hoa. Đỗ thứ hạng cao, ông được bổ làm Hàn lâm viện đãi chế.
Nguyễn Du (1765– 1820) Ông là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, Nguyễn Du được Hội đồng hòa bình thế giới công nhận là danh nhân văn hóa thế giới và ra quyết định kỷ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của ông. Quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Năm Quý Mão (1783) Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Năm Ất Sửu(1805) ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân
Nguyễn Hữu Chỉnh ( ?-1787) là tướng thời Lê trung hưng và Tây Sơn, một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tới lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 18. Ông là người huyện Chân Phúcphủ Đức QuangTrấn Nghệ An nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi LộcNghệ An.
Nguyễn Hữu Chỉnh thi đỗ Hương cống lúc mới 16 tuổi, nên còn gọi là Cống Chỉnh. Chỉnh dung mạo tuấn tú lại có tài ứng đối, lên 9 tuổi đã ứng khẩu làm được bài thơ "Vịnh cái pháo". Ông nổi tiếng ở kinh kỳ là người có tài ứng đối chữ nghĩa. Về võ, ông thi đỗ Tam trường
Nguyễn Thiếp (1723 - 1804), là nhà giáo và là danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn. Quê ở tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay là xã Kim Lộc, Can LộcHà Tĩnh. Năm 20 tuổi, ông dự thi Hương ở Nghệ An đỗ thủ khoa. Cuối năm 1788, sau khi lên ngôi Hoàng đế tại núi Bân (Huế), vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) kéo quân ra Bắc, đến Nghệ An nghỉ binh, nhà vua  triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi kế sách đánh đuổi quân Thanh xâm lược, Nguyễn Thiếp nói:"Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”. Lời tâu này rất hợp ý vua. Năm 1791, vua Quang Trung lại cho mời ông vào Phú Xuân để bàn việc nước. Vì cảm thái độ chân tình ấy, nên lần này ông đã nhận lời (trước đó ông đã từ chối 3 lần). Đến gặp, ông đã dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" (đại ý khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước); hai là "Dân tâm" (đại ý khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục lòng người), và ba là "Học pháp" (đại ý khuyên vua chăm lo việc giáo dục). Tuy là ba, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau và đều lấy quan niệm "dân là gốc nước" làm cơ sở. Nguyễn Thiếp viết: "Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên".
Nguyễn Nễ (1761-1805), sinh tại phường Bích Câu – Thăng Long. Thủa nhỏ rất ham học. Năm Kỉ Hợi (1779), 19 tuổi đậu đầu kỳ thi Khảo Khóa ở Quốc Tử Giám. Năm 23 tuổi thì đậu kỳ thi Hương ở Phụng Thiên. Làm quan cả hai triều Lê và Quang Trung.
Nguyễn Hữu Thận (1757-1831), là nhà toán học, và là đại thần trải hai triều: nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), là một nhà quân sự, mộtnhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại. Năm 1819 khi đã 41 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên ở trường thi hương trấn Nghệ An. Ngay từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp:
Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), ở làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Đại Kim quận Hoàng Maithành phố Hà Nội). Nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Năm 26 tuổi, ông thi Hương đỗ Á nguyên (Cử nhân thứ hai), nhưng hơn 10 năm sau mới đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất (1838) dưới triều vua Minh Mạng. Giải thích cho sự chậm trễ này, sách Đại Nam chính biên liệt truyện, cho biết vì ông "đọc sách cốt để rèn về cổ văn, không chuyên về học khoa cử, (nên) tới lúc đỗ Hương tiến (Cử nhân), thường cáo từ không đi tuyển cử (nữa), chỉ ở nhà tranh dưỡng chí , tới 10 năm có lẻ, sau mới đỗ Tiến sĩ Ất khoa".
Nguyn Văn Tường (1824-1886), là đại thần phụ chính củanhà Nguyễn. Ông xuất thân từ một gia đình lao động nghèo thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Đậu cử nhân (1850), dự thi hội, đạt đủ phân số điểm để được bổ nhiệm làm quan.
Nguyễn Trường Tộ (1830  – 1871), còn được gọi là Thầy Lân ; là một danh sĩ, kiến trúc sư và là nhà cải cách xã hội Việt Nam ở thế kỷ 19. Quê ở làng Bùi Chu, thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là nhà thơ lớn nhất của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19.
 Nguyễn Khuyến, quê ở làng Vị Hạ, xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Năm 1871, ông đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên (Hoàng giáp).
Và ngày nay đã xuất hiện hàng trăm tiến sỹ, viện sĩ, giáo sư người họ Nguyễn trong tất cả các lĩnh vực khoa học ở khắp mọi miền Tổ quốc Việt Nam… 
 
                                                                               Hà Nội, ngày 10/10/2014
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Công ty TNHH NV Systems

CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ NV SYSTEMS “Ứng dụng kỹ thuật công nghệ thông tin tiên tiến triển khai cho khách hàng vì sự phát triển bền vững của khách hàng, của  NV SYSTEMS và vì sự phát triển của CNTT của Việt Nam”.   Mục tiêu  Nhằm đạt được mục tiêu đề ra và từng bước...

Thăm dò ý kiến

Lợi ích của phần mềm nguồn mở là gì?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây