Họ Nguyễn Việt Nam – Niềm tự hào của hậu duệ (Phần I)

Thứ tư - 02/12/2015 04:28
HỌ NGUYỄN VIỆT NAM – NIỀM TỰ HÀO CỦA HẬU DUỆ-Phần I (Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ. Nguyễn Huy Hiệu; Tiến sĩ. Nguyễn Văn Kiệm) Phần I: Họ Nguyễn Việt Nam tự hào với những danh nhân, danh tướng “tài, trung, đức”

 Phần I: Họ Nguyễn Việt Nam tự hào với những danh nhân, danh tướng “tài, trung, đức”
Từ thời vua Hùng dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh, họ Nguyễn ViệtNam luôn xuất hiện các danh nhân kiệt xuất: Thời vua hùng có Đức thánh Tản Viên – Nguyễn Tuấn. Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh) được coi là vị đệ nhất phúc thần của nước Việt, đứng đầu trong tứ bất tử. (tứ bất tử: Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh Chử Đồng Tử và Thánh mẫu Liễu Hạnh). Tản Viên biểu hiện ước vọng chiến thắng thiên tai, lũ lụt; cái thiện thắng cái ác.
Truyền thuyết cũng kể rằng sau khi lấy được công chúa Mỵ Nương, là con rể của vua Hùng Vương thứ 18, (hiệu là Hùng Huệ Vương). Biết chàng là người có tài, có đức qua việc đánh thắng Thủy Tinh và quân Thục. Hùng Vương đã trao quyền trị nước cho Nguyễn Tuấn, nhưng chàng từ chối và xin vua cha cho đi du ngoạn khắp nơi để giúp dân. Sự đức độ của Ngài còn được thể hiện qua việc đánh Thục Phán.  Khi quân của Thục Phán tiến vào Phong Châu thì thế trận của Sơn Tinh cũng bày đặt xong. Ý định của Sơn Tinh là đánh cho Thục Phán một trận thua nhớ đời, không còn bao giờ dám đem quân tới xâm lấn nữa. Vì vậy, chàng đã không mở sách ước và gậy thần ra, bởi vì nếu không, Thục Phán và quan quân đã bị tiêu diệt hoàn toàn rồi. Nhờ tài binh của Sơn Tinh, cuộc chiến tranh Hùng Thục chấm dứt, Thục Phán phải cầu hòa, từ đấy vĩnh viễn từ bỏ ý đồ xâm lược.
Sơn thánh Tản Viên là người vì dân, hết lòng lo cho dân. Khi vua Hùng già yếu, Nguyễn Tuấn đã khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán để tránh cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt. Để ghi nhớ công ơn của Sơn Tinh, và cũng để tỏ lòng biết ơn vua Hùng nhường ngôi cho mình, An Dương Vương đã cho lập ở Nghĩa Lĩnh (trước đền thờ Vua Hùng) một cột đá thờ rất lớn, rồi tới các ngày tuần tiết, đều tự đến đây thắp đèn hương dâng lễ vật và đọc lời thề nguyện. 

Truyền thống hết lòng vì dân, vì nước ở các danh nhân họ Nguyễn chạy xuyên suốt chiều dài Lịch sử của họ Nguyễn cũng như Lịch sử của nước Việt.

Thời nhà Triệu, nhà Ngô có . Nguyễn Danh Lang (207-137 TCN), Nguyễn Thước (903-?) , Nguyễn Tất Tố (913 – 984) . Thời nhà Đinh có Nguyễn Bặc(924 –979), Nguyễn Bồ (?-967).

Thời tiền Lê, nhà Lý có Thiền sư Vạn Hạnh (938 – 1025)  là một vị thiền sư người Việt có nhiều đóng góp trong việc mở ra triều đại nhà Lý, một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông được xem là cố vấn của vua Lê Đại Hành, là người thầy của Lý Công Uẩn, đã hướng dẫn cho vị này một thời gian dài trước và sau khi triều Lý thành lập. Lý Quốc Sư – Nguyễn Minh Không (1065 – 1141) là tên gọi theo quốc tính họ Vua do nhà Lý ban cho ghép với chức danh pháp lý cao nhất của một vị thiền sư từng được gọi là dược sư, pháp sư, đại sư rồi quốc sư tên hiệu Nguyễn Minh Không. Ông là một vị cao tăng đứng đầu tổ chức phật giáo của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Người lập chùa, mở mang phật giáo.Trong suốt cuộc đời, trên cương vị quốc sư thống lĩnh lực lượng phật giáo quốc gia, Nguyễn Minh Không đã dựng tới 500 ngôi chùa trên đất Đại Việt. Nhiều ngôi chùa lớn còn tồn tại đến ngày nay như: chùa Bái Đínhchùa Cổ Lễchùa Non Nướcchùa Địch Lộngchùa Quỳnh Lâmchùa Am Tiênchùa Trôngchùa Kim Liên,... Ông là người phục hưng nghề đúc đồng. Nguyễn Minh Không được các làng nghề đúc đồng suy tôn là ông tổ của nghề đúc đồng. Vì có nhiều công lớn chữa bệnh cho vua và nhân dân mà ông cùng với Trần Hưng Đạo, là những nhân vật lịch sử có thật, sau này được người Việt tôn sùng là đức thánh Nguyễn, đức thánh Trần.

Nhà Trần, nhà Hồ có Nguyễn Bá Tĩnh - Tuệ Tĩnh Thiền sư (1330-?), người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương) được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam. Các bộ sách Nam Dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam. Nguyễn Cảnh Chân (1355 - 1409), Nguyễn Cảnh Dị (? – 1414),Nguyễn Suý (?-1414), Nguyễn Biểu (?- 1413), là những danh tướng chống quân Minh

Nhà Lê sơ có Nguyễn Nhữ Lãm (1378-1437), Nguyễn Lý (? - 1445),Nguyễn Chích hay Nguyễn Chính (13821448), Nguyễn Xí (1396-1465),Nguyễn Tuấn Thiện (1401-1445)là những công thần khai quốc nhà Lê sơ.
Nhà Lê sơ còn có người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi (1380 - 1442), với công lao của ông người thế kỉ 16, như Hà Nhậm Đại, đã nói về công lao sự nghiệp của ông:
Công giúp hồng đồ cao nữa (tựa) núi
Danh ghi thanh sử sáng bằng gương 
Người thế kỉ 17 còn đánh giá ông cao hơn nữa. Đỗ Nghi cũng là người triều Lê, nhưng ông đã nói thẳng: Nhà Lê sở dĩ lấy được thiên hạ đều do sức ông cả 
Sang thế kỉ 18 Dương Bá Cung cũng phải thừa nhận công lao của ông trùm khắp trên đời 
Lê Quý Đôn trong Kiến Văn tiểu lục nhận định về ông: "đứng vào bậc nhất một đời, chức vị Thượng thư, cấp bậc công thần. Cứ xem ông giúp chính trị hai triều vua hết lòng trung thành, tuy dâng lời khuyên răn thường bị đè nén mà không từng chịu khuất... nhưng vì tối nghĩa về "chỉ, túc" thành ra cuối cùng không giữ được tốt lành, thật đáng thương xót!... Người có công lao đứng đầu về việc giúp rập vua, thì ngàn năm cũng không thể mai một được".
Cho tới 400 năm sau khi Nguyễn Trãi mất, người Việt Nam ở thế kỷ 19 vẫn rất mực tôn quý ông và khẳng định: Nước Việt ta, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có các tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm
Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao "mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu"; võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, "yếu đánh mạnh ít địch nhiều... thắng hung tàn bằng đại nghĩa"; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao... Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta.
Năm 1980UNESCO công nhận ông là Danh nhân văn hóa thế giới.
Nhà Lê sơ còn có các tướng như Nguyễn Lỗi là một trong 18 người chiến hữu cận thần của Lê Lợi có mặt trong hội thề Lũng Nhai ở đất Lam Sơn vào năm 1417Nguyễn Đức Trung (1407-1477), Nguyễn Văn Lang  ( ?-1513), Nguyễn Hoằng Dụ (?-1518)
Nhà Mạc có Nguyễn Kính (?-1572) là công thần khai quốc nhà Mạc;Nguyễn Quyện (1511-1593) là danh tướng trụ cột của nhà Mạc; Nguyễn Ngọc Liễn tức Mạc Ngọc Liễn (?-1594) là đại thần nhà Mạc. do công phò tá nhà Mạc, Nguyễn Ngọc Liễn trở thành công thần hàng đầu ngoài hoàng tộc nhà Mạc, được cải sang họ vua.
Nguyễn Kim (1468-1545) ở Thanh Hóa là một danh tướng Việt Nam thời nhà Lê sơ và là người đặt nền móng cho sự thành lập nhà Lê trung hưng. Khi nhà Hậu Lê bị nhà Mạc tiếm ngôi, năm 1527, con cháu nhà Lê chạy trốn. Lúc bấy giờ, hầu hết các cựu thần nhà Lê ngả về họ Mạc hoặc bỏ đi nơi khác, chỉ có Nguyễn Kim là lo chiêu tập hào kiệt bốn phương phò Lê diệt Mạc. Sau đó ông đã tìm được con vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh ở Thanh Hóa và đưa sang Sầm Châu tôn lên ngôi vua là Lê Trang Tông (1533-1548). Ông giúp vua Lê tiến binh về nước dựng lên nhà Lê trung hưng. Ông được phong làm Thái sư, Hưng Quốc công, nắm giữ tất cả binh quyền. Tuy nắm giữ binh quyền nhưng một lòng phò tá nhà Lê mà không cướp ngôi.
Nhà Lê trung hưng họ  Nguyễn Cảnh làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương tỉnh Nghê An có 4 đời đều là tướng tài: Nguyễn Cảnh Huy (?-?) được gia phong Phúc Khánh Quận công; Nguyễn Cảnh Hoan ( 1521-1576được tấn phong Quốc công; Nguyễn Cảnh Hà (1583-1645) giữ chức Thiếu phó Tả tư mã Đô úy tước Thắng quận công.; Nguyễn Cảnh Cống(1585-1643) là Tham đốc Đô úy Lỵ quận công.
Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh có Nguyễn Hữu Dật (16031681) là đại công thần của chúa Nguyễn tại Đàng Trong. Ông là người có công phò tá nhiều đời chúa Nguyễn, đánh lui nhiều cuộc Nam tiến của chúa Trịnh, giữ vững lãnh thổ Đàng Trong, được phong chức Chiêu Vũ hầu; Nguyễn Hữu Tiến (1602) là tướng gan dạ phi thường của chúa Nguyễn Phúc Tần; Nguyễn Cứu Kiều. Ông lập được nhiều chiến công đã cùng các tướng Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đánh đuổi quân Trịnh, được Chúa tin dùng và gả công chúa Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh
Nguyễn Nghiễm  (1708 - 1776), Quê tổ ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), là một người vừa là quan võ vừa là quan văn. Ông có công ổn định tình hình Bắc Hà và tham gia chiến dịch đánh chiếm Phú Xuân của Đàng Trong năm 1774-1775.
Thời Chúa Nguyễn có Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700), tên thật là Nguyễn Hữu Thành, là một danh tướng thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông được xem là người xác lập chủ quyền cho người Việt tại vùng đất Sài Gòn-Gia Định vào năm 1698; Tướng Nguyễn Khoa Đăng (1690-1725); con cháu ông thay nhau làm quan cho các chúa Nguyễn: Nguyễn Đình Khôi (1594-1678), Nguyễn Khoa Danh (1632-1697), Nguyễn Khoa Chiêm làm quan đến chức Thượng thư bộ Lại, tước Bảng Trung hầu và là một danh sĩ giỏi thơ văn, tác giả của Nam triều công nghiệp diễn chí soạn vào năm 1719.Nguyễn Khoa Toàn (1724-1789),võ tướng đời chúa Nguyễn Phúc Thuần. Ông làm quan trải đến chức Tham chính, gồm coi bộ Hộ và bộ BinhNguyễn Khoa Kiên (?-1775), cháu nội Nguyễn Khoa Đăng, con Nguyễn Khoa Toàn và cũng là võ tướng đời chúa Nguyễn Phúc Thuần.Nguyễn Khoa Minh (1778-1837), cháu nội Nguyễn Khoa Đăng, em ruột ông Nguyễn Khoa Kiên. Năm Minh Mạng thứ 10 (1829), ông được lãnh chức Thượng thư bộ Lễ, tước Thành Mỹ Hầu. Nguyễn Khoa Hào (1799-1849), cháu nội Nguyễn Khoa Đăng, em ruột ông Minh. Nhờ học lực giỏi, năm 1803, dưới triều Gia Long, ông được bổ làm Thị Thơ không phải thi. Năm 1828, ông giữ chức Thượng thư bộ Lễ, sau đó là bộ Binh...Nguyễn Văn Thoại(1761-1829). Do có công lớn nên được chúa Nguyễn phong tước hầu. Ngoài ra cũng vì có công “bảo hộ” Cao Miên nên còn được gọi là Bảo hộ Thoại. Quê tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Thời Tây Sơn có người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế hay Bắc Bình Vương, Ông là một thiên tài quân sự và cũng là một nhà chính trị kiệt suất trong lịch sử Việt Nam. Ông được sánh như Hoàng đế Napoleon của nước Pháp hay Washington của nước Mỹ. Ông đã đánh đuổi giặc ngoại xâm Xiêm La và Mãn Thanh, bách chiến bách thắng. Từ khi bắt đầu làm tướng lúc 18 tuổi đến khi ông mất vừa tròn 40 tuổi chưa hề biết chiến bại là gì !!!
Ngoài ra trong thời đại của ông còn có các tướng lĩnh Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Văn Danh, Đô đốc TuyếtNguyễn Văn Lộc , Nguyễn Văn Duệ 
Thời nhà Nguyễn có Nguyn Văn Thành (1758 – 1817) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn đồng thời là một trong những người có công lớn nhất trong việc đưa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, trở thành vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, Nguyn Huỳnh Đc (1748 - 1819) là danh tướng và là công thần khai quốc của nhà NguyễnNguyn Tri Phương(1800-1873), Nguyễn Hữu Huân (1830-1875), Nguyễn Quang Bích (1832 – 1890), Nguyễn Trung Trực (18391868), Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926), Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889),  Nguyễn Thái Học (1902 –1930)…
Thời đại Hồ Chí Minh không biết bao nhiêu các nhân kiệt họ Nguyễn đã có công trong việc giành lại độc lập mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước mà trước hết là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc – danh nhân văn hoá thế giới: Hồ Chí Minh- Nguyễn Ái Quốc, rồi đến Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, các tướng lĩnh như Tướng Nguyễn Sơn, đại tướng Nguyễn Chí Thanh… Và trong thời kỳ đổi mới của đất nước làNguyễn Văn Linh ...
                                                             Hà Nội, ngày 10/10/2014
 

Nguồn tin: honguyenvietnam.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Sự hình thành và phát triển

"Lịch sử hình thành và phát triển của đơn vị".

Thăm dò ý kiến

Lợi ích của phần mềm nguồn mở là gì?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây